Articles by "FINANCE"

Hiển thị các bài đăng có nhãn FINANCE. Hiển thị tất cả bài đăng


Trong suốt 7 thế kỷ qua, trọng tâm của kinh tế thế giới đã dịch chuyển lần lượt từ Italia sang Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh và hiện nay là Mỹ.

Trung tâm tài chính của thế giới thay đổi

Trong suốt 7 thế kỷ qua, trọng tâm của kinh tế thế giới đã dịch chuyển lần lượt từ Italia sang Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh và hiện nay là Mỹ. Tuy nhiên, có một đặc điểm không bao giờ thay đổi: đất nước nắm giữ vị trí trung tâm của thế giới (cả về kinh tế và quyền lực) sẽ phát hành trái phiếu để trang trải chi phí. Các nhà đầu tư trong và ngoài nước mua những trái phiếu này bởi chúng đại diện cho những trái phiếu an toàn nhất để đầu tư.

Đất nước nằm ở trung tâm của kinh tế thế giới có thể phát hành nhiều trái phiếu hơn với chi phí thấp hơn so với các nước khác.

Tuy nhiên, qua thời gian, đất nước đó mất dần quyền lực và nhà đầu tư bắt đầu chuyển tiền đầu tư sang các nền kinh tế mới nổi khác.

Cho tới những năm 1500, Italia vẫn là trung tâm của kinh tế phương Tây. Khi đó, vùng Địa Trung Hải là cửa ngõ dẫn vào Byzantium, Trung Đông và cả Trung Quốc và Ấn Độ. Những thành phố như Venice, Genoa, Florence và nhiều thành phố khác của Italia lớn mạnh nhờ vào hoạt động thương mại. Tuy nhiên, chiến tranh giữa các vùng cũng khiến nhiều thành phố của Italia bị ảnh hưởng.

Đến những năm 1600, đất nước quyền lực nhất về kinh tế lại là Hà Lan. “Đất nước cối xay gió” đóng vai trò quan trọng nhờ vào giao dịch thương mại ở Đại Tây Dương. Bắc Âu cũng giúp Hà Lan củng cố vị thế của mình. Thặng dư vốn của Hà Lan có thể được minh họa qua bằng chứng lịch sử là bong bóng hoa tulip trong những năm 1630.

Tuy nhiên, Hà Lan quá nhỏ để có thể duy trì vị thế là trung tâm của kinh tế toàn cầu. Các cuộc cách mạng thương mại và công nghiệp đã dịch chuyển vùng trung tâm của kinh tế thế giới sang Anh vào cuối thế kỷ 17. Cuộc cách mạng công nghiệp năm 1688 nâng cao đáng kể vị thế chính trị của nước Anh và cho phép quốc gia này duy trì vị trí trung tâm cho tới năm 1914.

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, trung tâm của thế giới lại dịch chuyển từ London sang New York. Và, ngày nay, New York vẫn là trung tâm của kinh tế toàn cầu. Đồng USD là đồng tiền dự trữ thế giới, và điều này đã cho phép Washington có thể phát hành trái phiếu với chi phí thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác.

Chỉ số trái phiếu chính phủ

Global Financial Data đã xây dựng chỉ số trái phiếu chính phủ, sử dụng dữ liệu về trái phiếu do chính phủ các nước kể trên phát hành để theo dõi lợi suất trong suốt 7 thế kỷ qua. Từ năm 1285 đến 1600, dữ liệu về trái phiếu Italia được sử dụng. Từ năm 1606 đến 1699 là trái phiếu của Hà Lan, từ 1700 đến 1914 là trái phiếu của Anh và từ 1919 đến nay, trái phiếu kỳ hạn 10 năm do chính phủ Mỹ phát hành được sử dụng.

Hiểu thêm về lợi suất trái phiếu

Lợi suất trái phiếu do chính phủ các nước phát hành được quyết định bởi một số yếu tố: tăng trưởng GDP thực, tỷ lệ lạm phát, yếu tố cung cầu và rủi ro.

Lợi suất trái phiếu chính phủ không có rủi ro sẽ bằng với tốc độ tăng trưởng GDP danh nghĩa bởi nó đại diện cho chi phí cơ hội của việc nắm giữ trái phiếu chính phủ cả trên phương diện cơ hội đầu tư (GDP thực) và giá trị thời gian của tiền tệ (lạm phát).

Tăng trưởng cao hơn hoặc lạm phát cao hơn sẽ dẫn đến lợi suất trái phiếu tăng lên. Độ rủi ro của trái phiếu tăng lên cũng khiến lãi suất tăng lên. Nhà đầu tư có thể lo sợ rằng chính phủ không thể hoàn trả khoản nợ, giảm chi phí thực của trái phiếu thông qua lạm phát, hoặc giảm giá đồng nội tệ cũng là một cách để cắt giảm chi phí. Tất cả những yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến giá trái phiếu.

Xu hướng chung cho lợi suất trái phiếu chính phủ trong suốt 7 thế kỷ qua là giảm xuống. Không thể cho rằng đây là kết quả của tăng trưởng kinh tế chậm lại hoặc lạm phát giảm tốc, nhưng rõ ràng là một phần nguyên nhân nằm ở rủi ro vỡ nợ giảm xuống. Từ năm 1285 đến giữa những năm 1600, lợi suất trái phiếu chính phủ biến động trong khoảng 6% - 10%, trong một số trường hợp quanh mốc 20%.

Bởi vì có rất ít số liệu về lợi suất trước những năm 1700, có thể kết luận rằng lợi suất tăng vọt là do những sự kiện đặc biệt ảnh hưởng đến các chính phủ phát hành, đặc biệt là khi chiến tranh xảy ra. Lợi suất của các tài sản đầu tư khác cũng thấp hơn, nhưng do dữ liệu quá ít, khó có thể khẳng định rằng đây là nguyên nhân. Tuy nhiên, xu hướng là khá rõ ràng.

Kể từ năm 1700, các thị trường trái phiếu tương đối phát triển đã tồn tại ở London và New York, cho phép theo dõi lợi suất một cách chính xác. Kể từ giữa những năm 1600, trung bình lợi suất trái phiếu chính phủ vào khoảng 4%. Trước những năm 1600, lợi suất bị chi phối bởi rủi ro. Sau những năm 1600, lạm phát là nhân tố chi phối.

Trở thành trung tâm của kinh tế thế giới có nhiều cái lợi bởi nước đó có thể phát hành trái phiếu với chi phí thấp hơn nhiều so với các nước khác. Trong dài hạn, điều này có thể dẫn đến tình trạng phát hành quá nhiều nợ.

Với tình trạng nợ của chính phủ Mỹ ngày càng tăng, một số người đang bắt đầu tự hỏi liệu nước Mỹ có thể duy trì vị thế như hiện tại hay không. Trước khi nhận định về Mỹ, hay xem xét trường hợp của Italia, Hà Lan và Anh trong quá khứ.

Thu Hương
Business Insider


Giá trị của những căn nhà này tăng gấp nhiều lần so với thời điểm các tỷ phú tài chính mua về, với mức giá lên tới hàng trăm triệu USD.

10. Căn nhà tại Hamptons, New York của David Tepper
Giá trị ước tính: 66 triệu USD
Tỷ phú: David Tepper , nhà sáng lập Appaloosa Management
 10 căn nhà đắt nhất của giới tỷ phú tài chính
 
Năm 2011, nhà sáng lập quỹ đầu tư Appaloosa Management nổi tiếng với việc mua và đánh sập một căn biệt thự trị giá 43,5 triệu USD tại Hamptons để xây dựng lại với diện tích lớn gấp hai lần. Căn nhà nằm trên khu đất rộng hơn 26.000 m2.
Susan Breitenbach, một chuyên gia môi giới bất động sản tại New York cho biết, Tepper có thể đã phải bỏ ít nhất 15 triệu USD để xây lại căn nhà này. Giá trị của căn nhà đã tăng thêm 10% kể từ năm ngoái, lên khoảng 66 triệu USD.
9. Căn nhà "The Creeks" tại Hamptons của Ron Perelman
Giá trị ước tính: 77 triệu USD
Tỷ phú: Ron Perelman, chủ tịch kiêm CEO của MacAndrews & Forbes Holdings, Inc.
 10 căn nhà đắt nhất của giới tỷ phú tài chính
 
Một trong những tài sản có giá trị nhất của tỷ phú Ron Perelman là căn biệt thự xa xỉ có tên "The Creeks" tại Hamptons. Căn biệt thự này nằm trên khu đất có diện tích hơn 230.600 m2 với 40 phòng ngủ.
Perelman mua căn nhà từ thế kỷ 19 này vào năm 1990 với giá 12,5 triệu USD nhưng tới nay giá trị của nó tăng rất nhiều lần.
8. Căn nhà tại Manhattan của Henry Kravis
Giá trị ước tính: 80 triệu USD
Tỷ phú: Henry Kravis, đồng sáng lập Kohlberg Kravis Roberts & Co.
 10 căn nhà đắt nhất của giới tỷ phú tài chính
 
Căn nhà 26 phòng ngủ tại Park Avenue được tỷ phú Henry Kravis mua với giá 15 triệu USD năm 1994 từ công chúa Iran Ashraf Pahlavi. Hiện giá trị của nó đã lên tới 80 triệu USD.
7. Biệt thự của tỷ phú Bruce Kovner
Giá trị ước tính: 80 triệu USD
Tỷ phú: Bruce Kovner, nhà sáng lập kiêm chủ tịch Caxton Associates
 10 căn nhà đắt nhất của giới tỷ phú tài chính
 
Kovner bought mua căn biệt thự theo phong cách Anh này 10 năm trước với giá 17 triệu USD và đầu tư thêm 10 triệu USD để sửa sang.
6. Căn nhà của Bill Ackman tại tòa nhà xa xỉ One57
Giá trị ước tính: 90 triệu USD
Tỷ phú: Bill Ackman, nhà sáng lập kiêm CEO Pershing Square Capital Management
 10 căn nhà đắt nhất của giới tỷ phú tài chính
 
Nhà sáng lập quỹ đầu tư, tỷ phú Bill Ackman đang mua căn penthouse cao cấp tại tòa nhà One57 với giá 90 triệu USD.  Căn hộ nằm trên cả tầng 75 và 76 của toà nhà. Việc mua căn hộ xa xỉ này đang trong giai đoạn ký hợp đồng và Ackman coi đây là một thương vụ đầu tư.
5. Căn hộ cao cấp của tỷ phú Phil Falcone
Giá trị ước tính: 100 triệu USD
Tỷ phú: Phil Falcone, nhà sáng lập Harbinger Capital and LightSquared
 10 căn nhà đắt nhất của giới tỷ phú tài chính
 
Năm 2008, Phil Falcone và vợ đã mua căn nhà rộng hơn 7.600m2 tại khu Upper East Side, Manhattan, New York với giá 49 triệu USD. Sau đó ông đầu tư thêm 10 triệu để nâng cấp. Giá trị ước tính hiện này của căn nhà này là 100 triệu USD.
4. Căn penthouse tại Central Park West của tỷ phú Dan Loeb
Giá trị ước tính: 100 triệu USD
Tỷ phú: Dan Loeb, nhà sáng lập kiêm CEO của Third Point LLC
 10 căn nhà đắt nhất của giới tỷ phú tài chính
 
Tỷ phú Dan Loeb mua căn penthouse này vào năm 2008 với giá 45 triệu USD. Căn hộ có hướng nhìn 360 độ ra khu Central Park West và có thư viện rộng tới 3.200 m2.
3. Căn hộ tại Upper East Side của Steve Cohen
Giá trị ước tính: 116 triệu USD
Tỷ phú: Steve Cohen, nhà sáng lập SAC Capital Advisors
 10 căn nhà đắt nhất của giới tỷ phú tài chính
 
Cohen đang rao bán căn penthouse tại cao ốc One Beacon Court với giá 115 triệu USD. Căn hộ có diện tích hơn 2.700 m2 với 6 phòng ngủ, 6 phòng tắm, trần cao hơn 7m và sàn nhà bằng gỗ phong.
Năm 2005, Cohen mua căn hộ này với giá 24 triệu USD và thuê kiến trúc sư Charles Gwathmey sửa sang lại. Mới đây, Cohen lại mua một căn nhà tại Hamptons với giá 60 triệu USD và một căn tại 607 Hudson Street, Manhattan với giá 23 triệu USD.
2. Căn penthouse tại 740 Park Avenue của Steve Schwarzman
Giá trị ước tính: 120 triệu USD
Tỷ phú: Steve Schwarzman, nhà sáng lập, chủ tịch kiêm CEO Blackstone Group
 10 căn nhà đắt nhất của giới tỷ phú tài chính
 
Năm 2000, Schwarzman mua căn hộ này với giá khoảng 35-40 triệu USD. Căn hộ có 37 phòng ngủ, 11 lò sửa, 43 phòng để đồ, phòng tập thể hình, xông hơi, …
1. Fair Field, căn nhà tư nhân lớn nhất tại Mỹ của Ira Rennert
Giá trị ước tính: 247,8 triệu USD
Tỷ phú : Ira Rennert, nhà đầu tư
 10 căn nhà đắt nhất của giới tỷ phú tài chính
 
Rennert, ông trùm đầu tư, kinh doanh đã cho xây khu căn nhà rộng hơn 33.500m2 có tên Fair Field vào cuối những năm 1990 của thế kỷ trước và trở thành căn nhà tư nhân lớn nhất tại Mỹ. Riêng căn nhà rộng hơn 20.000 m2 với 29 phòng ngủ, 39 pòng tắm.. Ngoài ra, bên trong còn có 2 sân tennis và bể nước nóng.

Tất cả đều phải học lại hết!



Nội dung nổi bật:

- Vì sao phải đào tạo lại? Do khủng hoảng và một loạt bê bối khiến tiếng tăm cũng như việc làm ăn của các ngân hàng lớn suy giảm.

- Đào tạo thế nào? Nhân viên cấp cao, kể cả chủ tịch cũng phải "học" lại nhiều thứ.

- Hiệu quả đến đâu? Rõ ràng chỉ thay đổi nhân viên thì chưa đủ. Quy trình này phải mất năm đến mười năm chứ không thể một sớm một chiều là nhìn ra được kết quả.


"Nhiều năm qua nhân viên ngân hàng đã làm những gì?"

Câu trả lời tưởng chừng phức tạp, dài dòng nhưng kỳ thực lại vô cùng đơn giản: đào tạo.

Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính tác động và một loạt các vụ bê bối làm suy giảm tiếng tăm, toàn bộ 98.000 nhân viên của Deutsche Bank, 13.000 nhân viên cấp cao của Goldman Sachs cùng 140.000 nhân viên của Barclays đã và đang theo học các chương trình nhằm tăng cường quy củ, giá trị, cách ứng xử và xây dựng văn hóa doanh nghiệp tích cực.

Theo các báo cáo của các ngân hàng trong thời gian gần đây, những chương trình này vẫn gây ra không ít ngờ vực. Có người cho rằng cho dù thái độ nhân viên được nâng cao, các cấp quản lý vẫn chưa chắc theo dõi, đo lường và quản lý được một cách hiệu quả, đặc biệt là khi áp lực cạnh tranh tăng lên khi thị trường bắt đầu phục hồi.

Ngân hàng lớn đào tạo nhân viên bằng cách nào?

Dan Ostergaard, thành viên quản lý của Integrity By Design, một tập đoàn Thụy Sĩ chuyên tư vấn về thay đổi văn hóa và đào tạo đạo đức doanh nghiệp cũng chỉ lạc quan ở mức vừa phải. Ông này cho rằng nếu các ngân hàng không giải quyết cách thức tổ chức từ tuyển dụng, đề bạt, tăng lương cho đến cách đưa ra quyết định kinh doanh hàng ngày thì đào tạo cũng vô ích.

Tại Barclays, sau một buổi chuyên đề nửa ngày cho một nhóm 20 đến 30 người, công ty yêu cầu nhân viên cam kết thay đổi một điều nào đó để thể hiện giá trị của ngân hàng, bao gồm "tôn trọng, liêm chính, dịch vụ tốt, xuất sắc và quản lý".

Tại Deutsche Bank, nếu thành viên trong nhóm đạt dưới 80% trong một bài kiểm tra trực tuyến bắt buộc, trưởng nhóm sẽ bị gắn "cờ đỏ", sự nghiệp và cơ hội thăng tiến của tất cả sẽ bị ảnh hưởng.

Tại Goldman, các nhân viên cấp cao bắt đầu từ chủ tịch sẽ phải dành nhiều giờ để tranh luận về một case study hư cấu chủ đề "Đa dạng hóa tài chính", một tổ chức quan trọng có hệ thống đang đứng trên bờ vực phá sản.

Thực tế, việc đào tạo như trên là điều cần thiết vì nó rút ra được bài học từ việc kinh doanh trước đây của ngân hàng.

Ví dụ, từ năm 1979 Goldman đã xây dựng một hệ thống các nguyên tắc kinh doanh và luôn tự hào về văn hóa doanh nghiệp vững mạnh. Tuy nhiên, đến năm 2007 ngân hàng vẫn rơi vào khủng khoảng sau khi bị buộc tội cố tình tiếp thị sản phẩm thế chấp chất lượng kém cho khách hàng trong vụ thỏa thuận Abacus.

Sức ép từ công luận và chính trị buộc Goldman phải đầu tư ba năm xem xét lại các tiêu chuẩn và phương thức làm việc của mình, trong đó có cả việc tái đào tạo nhân viên. Trong một buổi tập huấn cho các phó chủ tịch tại London, công ty nhận thấy rằng ngay cả nguyên tắc cơ bản nhất "Lợi ích khách hàng là tiên quyết" áp dụng vào thực tế còn khó khi Goldman có quá nhiều khách hàng với lợi ích xung đột lẫn nhau.

Thi nhau chuyển mình

Song song với đào tạo, Goldman còn thắt chặt quy trình để xử lý xung đột lợi ích. Tuy nhiên câu chuyện “Đa dạng hóa tài chính” lại làm dấy lên các vấn đề cũ.

Tại buổi hội thảo London, các nhân viên được yêu cầu biểu quyết cho phương án tốt nhất sau khi xem video tình huống nhưng mỗi người lại có một kiểu đáp án. Thậm chí người điều hành hội thảo còn phát biểu rằng: ”Từ các biểu quyết, chúng ta có thể thấy đây là những việc làm hết sức khó khăn. Đến cuộc họp ban lãnh đạo cũng khó lòng đưa ra ý kiến thống nhất cho những vấn đề này."

Philippa Foster Back, giám đốc Viện Đạo đức Kinh doanh tại London nhận xét: Từ năm 2001, ngành tài chính và tất cả các lĩnh vực kinh doanh khác có vẻ nỗ lực cải thiện hành vi nhân viên hơn, chứ không còn đưa ra quy định về kỷ luật rồi bỏ mặc như hời năm 2000. Các chương trình mới hơn bắt đầu ở cấp độ lãnh đạo, bao gồm các cuộc đào tạo khắt khe, đòi hỏi phải tham gia liên tục và ở quy mô toàn cầu.

Ví dụ, Antony Jenkins, CEO của Barclays đã khởi động chương trình “Chuyển đổi” sau vụ scandal gian lận lãi suất Libor khiến công sức thay đổi văn hóa công ty sau khủng hoảng của CEO tiền nhiệm đổ sông đổ bể.

Buổi họp cho lãnh đạo cấp cao tổ chức tại một căn phòng ở hội sở chính, bài trí theo phong cách hội họp thời Roman để khuyến khích thảo luận mở. Các hội thảo của Barclay được dẫn dắt bởi 1.500 lãnh đạo từ tất cả các bộ phận của tập đoàn, được đào tạo bởi một dàn chuyên gia thuê từ bên ngoài. Họ cùng nhau thảo luận các nguyên tắc của Barclay có ý nghĩa thế nào với từng cá nhân.

Deutsche Bank, cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi các khoản thế chấp nhà đất và vụ bê bối Libor, lại chú trọng đào tạo bắt buộc qua máy tính. Ngân hàng thành lập các hội thảo theo hình thức lớp học, bổ sung thêm các buổi đào tạo về văn hóa rủi ro và nhận thức về rủi ro.

Dan Ostergaard nhận xét: "Trong hai phương pháp trên, giao tiếp mặt đối mặt hiệu quả hơn nhiều, mặc dù e-learning dễ dàng mở rộng và đảm bảo tính liên tục nhưng không thực sự có hiệu quả lắm."

Thay đổi nhân viên không thôi, chưa đủ

Đào tạo chỉ có tác dụng tới một mức nào đó, quan trọng môi trường kinh doanh nói chung phải chuẩn mực nếu muốn giảm tính vô trách nhiệm. Kể cả những nhân viên "tốt" cũng từng bán các khoản thế chấp xấu trước khi khủng hoảng xảy ra.

Các lãnh đạo phải loại trừ thứ mà bà Foster gọi là "khoảng cách giữa nói và làm". Nếu chỉ nói suông "ý thức tốt sẽ được đánh giá tốt" nhưng không đưa ra chế độ thưởng phạt thì khác nào thể hiện với nhân viên rằng văn hóa và giá trị chẳng hề có nghĩa lý gì.

Cả ba ngân hàng phát biểu rằng họ đã tái cơ cấu lại cơ chế lương thưởng và thăng tiến để đánh giá năng lực cá nhân các nhân viên trên hệ quy chiếu là các giá trị của công ty.

Goldman nhấn mạnh rằng, tất cả các nhân viên cần đánh giá, quản lý lẫn nhau, thậm chí phải báo cáo với cấp trên khi người khác vượt quá giới hạn.

Hiệu quả đến đâu?

Để đo lường hiệu quả tại Barclay, ngài Jenkins sẽ lấy phiếu bầu của nhân viên, ý kiến của các nhân viên cũ và khách hàng. Ông mong muốn biến các survey đó thành một dạng thẻ điểm cân bằng cho nhóm. “Tôi đã luôn biết rằng đây sẽ là một hành trình dài 5 đến 10 năm vì vậy đây không phải là chiêu trò PR và mọi thứ sẽ không tốt lên đột ngột”.

Ý kiến nghe có vẻ thực tế nhất đến từ Gerald Corrigan, một cựu binh, giám đốc Goldman và đồng thời nhân viên cục dự trữ liên bàng Mỹ.

Ông đã giúp thực hiện việc xem xét các hoạt động của ngân hàng, thúc đẩy những thay đổi bao gồm cả việc thay đổi cấu trúc thượng tầng các ủy ban nội bộ mà các nhân viên ngân hàng cho rằng có vấn đề.

Ngân hàng cho biết bây giờ các nhân viên đã dễ dàng chấp nhận hơn việc một giao dịch hấp dẫn đôi khi có thể bị từ chối. Tuy vậy, ông Corrigan nói: "Bất cứ ai nghĩ luôn có giải pháp an toàn tuyệt đối cho mọi vấn đề thì thật là ngớ ngẩn".

Vì vậy khi “Đa dạng hóa tài chính” mới xuất hiện, câu hỏi sẽ không phải là các nhân viên ngân hàng đã thực hiện đào tạo hay chưa, tất cả đều sẽ tham gia nhưng vấn đề là tiếp thu được bao nhiêu để tránh khỏi vết xe đổ mà rất nhiều người trước đó đã đi vào.

FT

Nhận định của Shiller được đưa ra tại hội nghị Buttonwood Gathering do tạp chí Economist tổ chức.



Tài chính không phải lúc nào cũng xấu xa, theo Robert Shiller – vị giáo sư danh tiếng của đại học Yale và cũng là người vừa nhận được giải Nobel Kinh tế 2013.

Nhận định của Shiller được đưa ra tại hội nghị Buttonwood Gathering do tạp chí Economist tổ chức. Trong cuộc tranh luận có tiêu đề “Goldman Vs. Google: Nghề nghiệp trên phố Wall hay thung lũng Silicon?”, nhà kinh tế học này lập luận rằng những bạn trẻ mới tốt nghiệp với một mục tiêu hợp đạo đức và yêu thích thế giới tài chính nên làm việc cho Goldman Sachs thay vì Google.

“Học về tài chính có nghĩa là bạn học về cách khiến cho điều gì đó xảy ra trên phạm vi lớn, trong khi ở Google đôi khi là lập trình những thứ không phải là thiết yếu”. Ông giải thích rằng tất cả các hoạt động của con người đều có liên quan đến tài chính.

Không có gì đáng ngạc nhiên, lời nhận xét của Shiller ngay lập tức bị các diễn giả khác phản pháo. Vivek Wadhwa – Phó chủ tịch phụ trách nghiên cứu và cải tiến của ĐH Singularity – cho rằng Google đã đem đến cho con người khả năng nghiên cứu xuất sắc. Google cũng đã bắt tay nghiên cứu những sản phẩm gần gũi với đời sống như xe hơi tự lái và mạng không dây nổi.

“Bạn có muốn con cái mình “xào nấu” hệ thống tài chính, thiết kế nên hệ thống tài chính và tiếp tục tạo ra nhiều bong bóng?”, Wadhwa nói.

Buttonwood Gathering 2013 là hội thảo có sự tham gia của nhiều nhà lãnh đạo về tài chính, kinh tế, kinh doanh cũng như các quan chức chính phủ thảo luận về những thay đổi của thị trường tài chính cũng như những chuyển dịch về dân số, công nghệ, kinh tế trên phạm vi toàn cầu nhằm xác định những xu hướng quan trọng nhất hình thành nền tài chính của thế kỷ 21.

Theo Business Insider

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.